MỸ BAN HÀNH CHÍNH SÁCH VISA CHÍNH THỨC CHO NHẬP HỌC CÓ ĐIỀU KIỆN

Tóm tắt:

  • Chính phủ Mỹ đã ban hành hướng dẫn cuối cùng về chính sách tuyển sinh có điều kiện cho sinh viên quốc tế.
  • Theo chính sách chính thức hiện nay, các trường đại học chỉ có thể cấp giấy I-20 cho chương trình học khi học sinh đã đáp ứng tất cả các yêu cầu nhập học
  • Điều này có nghĩa rằng những sinh viên theo học tiếng Anh, hoặc bất kỳ chương trình dự bị khác, sẽ được yêu cầu I-20 riêng cho từng chương trình, và sau đó thêm I-20 cho chương trình cấp bằng.
  • Những sinh viên đang dự định theo học một chương trình tiền đại học tại một tổ chức đối tác ở Mỹ ( ví dụ như một trường ngôn ngữ riêng biệt hoặc các tổ chức tư nhân khác) được cấp I-20 từ trường đại học đối tác, sẽ phải  đáp ứng đầy đủ tất cả các yêu cầu nhập học để có được I-20 dành riêng cho chương trình học đại học của mình.

Chương trình quản lý sinh viên và khách du lịch ( SEVP) thuộc Bộ An Ninh Nội Địa Hoa Kỳ(DHS) ban hành chính sách được chờ đợi từ lâu , hướng dẫn cuối cùng về chính sách tuyển sinh có điều kiện cho sinh viên quốc tế có dự định du học tại Mỹ thuộc diện Visa F-1 (học tập) hoặc Visa M-1 ( nghề).

Chính sách cuối cùng, được công bố vào ngày 13 tháng 7 năm 2016, gần giống phiên bản dự thảo phát hành vào tháng 7 năm 2014 , với những điểm chính như sau:

  • Các trường đại học không được phép cấp I-20(tài liệu mà sinh viên quốc tế cần phải có để xin được visa du học) cho các chương trình học cho đến khi học sinh  đáp ứng tất cả các yêu cầu để nhập học.
  • Các trường đại học có  chương trình Anh ngữ có thể phát hành một I-20 cho riêng chương trình này , sau đó, học sinh sẽ được cấp I-20 cho chương trình học thuật  nếu đáp ứng được yêu cầu về ngôn ngữ. Trong trường hợp này,  trường đại học  phải có một báo cáo thay đổi về cấp độ để SEVP xác minh rằng các sinh viên có đủ điều kiện để vào học các chương trình cấp bằng.
  • Tuy nhiên, những trường có đối tác là trường đào tạo ngôn ngữ, hoặc bất kỳ chương trình dự bị nào khác, không được phép cấp  I-20 cho đến khi học sinh đã đáp ứng tất cả các yêu cầu nhập học. Thay vào đó, tại các trường đối tác phải cung cấp riêng I-20 của mình cho học sinh.

Nhập học có điều kiện từ lâu là một cơ chế thường được sử dụng trong việc tuyển sinh quốc tế, được hiểu như những học sinh tiềm năng được cấp giấy chấp nhận tạm thời dựa trên cơ sở đáp ứng một hoặc nhiều hơn những yêu cầu nhập học ( đặc biệt là các yêu cầu về ngôn ngữ). Tuy nhiên, DHS chỉ ra trong dự thảo hướng dẫn năm 2014, tương tự dự thảo năm 1975, cơ quan kiểm định Hoa Kỳ quan tâm đến khả năng thực hành nhiều hơn.

Mặc dù vậy, Nhập học có điều kiện vẫn được sử dụng rộng rãi bởi nhiều trường đại học có chương trình tiếng Anh. Trong trường hợp đó, I-20 thường thể hiện chuyên ngành học và khung thời gian dự kiến hoàn thành chương trình học, cộng thêm một khoảng thời gian học chương trình tiếng Anh. Trong những năm gần đây, nhiều trường đại học không có chương trình đào tạo ngôn ngữ riêng  cũng đã hình thành quan hệ đối tác với các trường ngôn ngữ tư nhân, với sự đảm bảo  khi khả năng ngôn ngữ của học sinh  được cải thiện họ sẽ có một chỗ ở trường đại học.

Các quan chức lãnh sự Mỹ ở nhiều nước thường  chấp thuận thị thực hợp lệ cho một khoảng thời gian lâu hơn để cho phép học sinh hoàn tất các chương trình tiếng Anh và dự bị. Một số quốc gia, nơi mà việc cấp thị thực cho các chương trình ngôn ngữ rất khó khăn, nhập học có điều kiện được cho làm tăng cơ hội có được thị thực.

Có rất nhiều câu hỏi được đặt ra

Nhiều nhà giáo dục dự đoán định hướng chính sách của Chính phủ trên cơ sở dự thảo hướng dẫn trước đó từ năm 2014. Tuy nhiên, việc ban hành chính sách chính thức vào tháng trước làm trỗi dậy thêm  nhiều câu hỏi quan trọng.

Không chỉ có điều kiện về Tiếng Anh.

Đầu tiên, nhập học có điều kiện được sử dụng rộng rãi cho các yêu cầu liên quan đến trình độ thông thạo tiếng Anh. Với nhiều sinh viên trong nước, ví dụ, thư mời nhập học thường được cấp trước khi hoàn tất trung học, và điều kiện sau là hoàn thành năm cuối cùng của trung học. Nhiều trường sau đại học đưa ra nhập học có điều kiện khi sinh viên đáp ứng những điều kiện bắt buộc tại đại học hoặc khi nhận được bảng điểm đại học chính thức.  Ngày nay, rất nhiều thư nhập học nêu rằng những điều kiện đó gần với việc điều tra thông tin xác thực của học sinh.

Connie Childs, Giám đốc Quan hệ Quốc tế tại Trung tâm Khoa học Y tế – Đại học Tennessee , chỉ ra rằng nhiều học sinh của bà phải cung cấp bảng điểm chính thức hoặc giấy tờ chứng minh hoàn thành những điều kiện bắt buộc. “Nếu chúng tôi phải tuân thủ theo hướng dẫn mới của SEVP , một số sinh viên có khả năng sẽ phải hoãn nhập học vào học kỳ sau, bởi vì chúng tôi sẽ không  thể phát hành I-20 để họ có thể xin thị thực kịp thời”, bà Childs nói.

“Tôi nghĩ rằng vấn đề này lớn hơn rất nhiều so với những gì chúng ta thấy. Thông thường vấn đề chỉ liên quan đến trình độ thông thạo tiếng Anh, nhưng với hướng dẫn này, nó sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới sinh viên , những người đang hoàn tất bằng cử nhân trong thời gian ngắn trước khi ghi danh vào một chương trình sau đại học hoặc các lớp học cuối cùng của họ chưa có lịch học hoặc  lịch học không đúng thời gian, “bà nói thêm.

Không có thời gian chuyển tiếp

Không có giai đoạn chuyển tiếp được chỉ ra trong hướng dẫn cuối cùng và do đó nó đã có hiệu lực ngay lập tức. Nhưng nhiều trường đã ban hành hàng ngàn I-20 có điều kiện cho các học sinh để bắt đầu học vào mùa thu này. Charter Morris, Giám đốc Dịch vụ Quốc tế tại Đại học Alabama, băn khoăn về hướng giải quyết với những I-20 đã được gửi đi trước ngày 13/07. “Thời gian hoàn toàn không thuận lợi, đặc biệt chúng tôi đang cân nhắc có khoảng 70 sinh viên đủ điều kiện học sẽ đến trong một vài tuần , và bất kỳ thay đổi hồ sơ SEVIS của họ có thể rất bất lợi cho hồ sơ xin visa  hoặc ảnh hưởng đến việc nhập cảnh vào Mỹ,” ông nói Morris.

Một số nhà giáo dục cũng hy vọng sẽ được hướng dẫn thêm từ SEVP để xử lý các trường hợp I-20 cũ trong các tình huống khác nhau khi học sinh đến  trường vào mùa thu này.

Không cấp thị thực dành riêng cho chương trình tiếng Anh?

Nhập học có điều kiện đã đóng một vai trò quan trọng đối với nhiều sinh viên đến từ các quốc gia như Trung Quốc, nơi mà thị thực du học thường không được cấp cho các chương trình chỉ học ngôn ngữ, trong khi những học sinh được tài trợ đi du học, chẳng hạn như chương trình học bổng Ả Rập Saudi, đã gửi gần 60.000 sinh viên đến Mỹ vào 2014/15, rất nhiều học sinh bắt đầu khóa học với chương trình ngôn ngữ.

Đối với nhiều nhà giáo dục, nhiều sinh viên tương lai và các công ty tư vấn ,I-20 của trường đại học đang là mối quan tâm lớn. Nadia Redman, Trợ lý Giám đốc Tuyển sinh và Tuyển dụng tại Học viện Anh ngữ của Đại học Delaware, nói rằng, thực tế bà không tin rằng sự chấp nhận của các trường đại học hiện nay là cần thiết đối với học sinh Trung Quốc để có được thị thực cho việc học ngôn ngữ, “Một quan niệm phổ biến cho rằng họ phải có sự chấp nhận của một trường đại học hoặc họ sẽ không được cấp visa. Nó thực sự là một câu hỏi hóc búa. Chưa có lý do tại sao sự nhận thức này vẫn tồn tại ở Trung Quốc, nhưng nó sự thật”. Kết quả là, thực sự rất khó khăn để thuyết phục nhân viên lãnh sự cấp thị thực chỉ cho ESL mà không nhập học đại học.

Quá trình thực hiện

I-20  nhập học có điều kiện trở lên phổ biến đôi với các quan chức lãnh sự Bộ Ngoại giao (DOS). Các nhà giáo dục hy vọng rằng các quan chức điều hành DOS trên toàn thế giới  cập nhật kỹ lưỡng về chính sách mới, nhưng những điều diễn ra trong quá khứ vẫn dẫn đến nghi ngờ. Sự khác biệt giữa DHS và DOS đã được nhận thấy, đặc biệt  trong những chính sách mới được thành lập bởi một cơ quan không thường xuyên giám sát hoặc thỏa thuận của các bên khác..

Do khoảng cách thực hiện giũa DHS và DOS, nhiều lo ngại rằng, ít nhất ban đầu, ứng viên có thể bị từ chối visa khi họ chỉ có I-20 của chương trình ngôn ngữ,  trái ngược với những gì các quan chức lãnh sự đã mong muốn một I-20 kết hợp chương trình ngôn ngữ và chương trình học.

“Chúng tôi chỉ có thể ban hành I-20 cho chương trình tiếng anh dựa trên các hướng dẫn tạm thời trước đó,” Kirsten Sheppard, Giám đốc Giáo dục Quốc tế tại Maryville College nói. “Chúng tôi nhận thấy  những nơi  khó khăn trong việc cấp thị thực, chẳng hạn Rwanda hay Nigeria, các vấn đề đều được tạo ra. Chúng tôi cung cấp rất nhiều thông tin giải thích, bổ sung cùng với các tài liệu nhập học và đã tìm đến các đại sứ quán, nhưng không phải lúc nào cúng có một kết quả tích cực “.

Nhiều tổ chức ban hành I-20 cho biết họ có kế hoạch chú thích trên I-20 các điều kiện tuyển sinh xứng đáng, nhưng nếu quan chức DOS hiểu lầm hoặc tin vào việc cấm ban hành I-20 có điều kiện, có nghĩa lệnh cấm toàn bộ sẽ được thực hiện, hoặc trong trường hợp I-20 dành cho chương trình ngôn ngữ được đánh giá là ít giá trị, một số học sinh có thể phải đợi đến khi chính sách mới được mở rộng và thông qua.

Thách thức trong tuyển sinh

Những tổ chức có điều kiện nhập học cởi mở cần phải xem xét lại chính sách của mình. Trong một số trường hợp, các trường đại học có chương trình ESL, không phân biệt giữa chương trình tiếng Anh và chương trình học thuật, vì bước đầu tiên trong từng khóa học là kiểm tra tất cả các sinh viên mới và xếp vào các khóa học thích hợp dựa trên kết quả kiểm tra. “Tôi không quá vui mừng với điều này bởi sự điều chỉnh thời gian và tất cả các sinh viên  năm đầu tiên của chúng tôi, bao gồm sinh viên Mỹ và quốc tế, đều tham gia thi để xếp vào các khóa học tiếng Anh và Toán phù hợp,” Rebecca Leevey nói, Cố vấn Sinh viên Quốc tế tại Đại học Calumet of St. Joseph. Bà Leevey chỉ ra rằng sinh viên Mỹ thường hoàn thành các bài kiểm tra trong các buổi định hướng trước đó, sinh viên quốc tế chỉ tham gia khi họ đã tới Mỹ, việc đánh giá này không thể được thực hiện ở nước ngoài.

Liên kết với các trường đối tác

Một số trường đại học có các thỏa thuận với các nhà cung cấp bên ngoài chương trình tiếng Anh, những nơi không thể ban hành I-20, và do đó phụ thuộc vào I-20 có điều kiện của trường đại học để tuyển sinh  từ nước ngoài. Ít nhất một trường như vậy ở phía đông bắc Mỹ đang vật lộn để tìm ra cách thức tiến hành, họ đang chuẩn bị bổ sung khoảng 290 sinh viên quốc tế và với một nhà tư vấn bên thứ ba đang lo lắng chờ đợi hướng dẫn cách nộp đơn để có được I-20 cần thiết. Đại diện chính thức của một trường đại học cho biết, cô biết một vài tổ chức khác cũng đang trong tình huống tương tự.

Thời hạn Visa

I-20 chương trình tiếng Anh thường có thời hạn từ 12-24 tháng, trái ngược với 4 hoặc 5 năm đối với chương trình đại học – nhiều sinh viên sẽ có thời hạn thị thực ngắn hơn và do đó phải cẩn thận hơn nếu trở về nhà cho kỳ nghỉ giữa chương trình tiếng Anh và chương trình cấp bằng.

Mong muốn thông qua chương trình Pathway

 Pathway là một chương trình hỗn hợp, kết hợp giữa học thuật và học tiếng. Đây là một chương trình đang rất phổ biến tại Mỹ và được nhiều trường áp dụng, những đến nay vẫn chưa được SEVP thông qua. Nhiều nhà giáo dục thể hiện mong muốn SEVP sẽ sớm thông qua và đưa ra hướng dẫn cuối cùng đối với chương trình này như đã thực hiện với nhập học có điều kiện.

Related Post

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *